TÌM KIẾM

Điều Trị Nám Công Nghệ PRP - Lâm Kiều Spa

    PRP là từ viết tắt của platelet rich plasma, nghĩa là huyết tương giàu tiểu cầu.

    Đầu tiên ta tìm hiểu kiến thức cơ bản về máu

    Máu là một mô lỏng, lưu thông trong hệ thống tuần hoàn của cơ thể.

    Trong máu có: các tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và huyết tương.

    - Hồng cầu: chiếm số lượng nhiều nhất, chứa huyết sắc tố (chất làm cho máu có màu đỏ). Hồng cầu làm nhiệm vụ vận chuyển khí ôxy (O2) từ phổi đến các mô và nhận khí cacbonic (CO2) từ các mô tới phổi để đào thải. Đời sống trung bình của hồng cầu là 120 ngày; hồng cầu già bị tiêu hủy chủ yếu ở lách và gan. Tủy xương sinh các hồng cầu mới để thay thế và duy trì lượng hồng cầu ổn định trong cơ thể.

    - Bạch cầu: Bạch cầu có chức năng bảo vệ cơ thể bằng cách phát hiện và tiêu diệt các "vật lạ” gây bệnh. Có nhiều loại bạch cầu khác nhau với đời sống từ một tuần đến vài tháng: có loại làm nhiệm vụ thực bào tức là "ăn” các "vật lạ”, có loại làm nhiệm vụ "nhớ” để nếu lần sau "vật lạ” này xâm nhập sẽ bị phát hiện và nhanh chóng cơ thể sinh ra một lượng lớn bạch cầu tiêu diệt chúng, có loại tiết ra các kháng thể lưu hành trong máu để bảo vệ cơ thể... Bạch cầu được sinh ra tại tủy xương. Ngoài việc lưu hành trong máu là chính, có một lượng khá lớn bạch cầu cư trú ở các mô của cơ thể để làm nhiệm vụ bảo vệ.

    - Tiểu cầu: Là những mảnh tế bào rất nhỏ tham gia vào chức năng cầm máu bằng cách tạo các cục máu đông bịt các vết thương ở thành mạch máu. Ngoài ra, tiểu cầu còn làm cho thành mạch mềm mại, dẻo dai nhờ chức năng tiểu cầu làm "trẻ hóa” tế bào nội mạc. Đời sống của tiểu cầu khoảng 7 – 10 ngày. Cũng giống như hồng cầu và bạch cầu, tủy xương là nơi sinh ra tiểu cầu.

    * Huyết tương: là phần dung dịch, có màu vàng, thành phần chủ yếu là nước; ngoài ra còn còn có thành phần khác như: đạm, mỡ, đường, vitamin, muối khoáng, các men…

    Huyết tương thay đổi theo tình trạng sinh lý trong cơ thể, ví dụ sau bữa ăn huyết tương có màu đục và trở nên trong, màu vàng chanh sau khi ăn vài giờ. Nếu đơn vị máu có huyết tương "đục” sẽ không được sử dụng vì có thể gây sốc, gây dị ứng cho người bệnh; vì vậy, người hiến máu chỉ nên ăn nhẹ, ăn ít đạm, ít mỡ trước khi hiến máu.

    NHÓM MÁU

    Có nhiều hệ nhóm máu, ở đây mình chỉ đề cập đến hệ máu ABO phổ biến.


    - Hệ nhóm máu ABO gồm 4 nhóm máu là A, B, O và AB với tỷ lệ phân bố trong cộng đồng khác nhau ở từng chủng tộc. Ở Việt Nam, tỷ lệ này là: nhóm O khoảng 42,1%, nhóm B khoảng 30,1%, nhóm A khoảng 21,2% và nhóm AB khoảng 6,6%.

    - Nguyên tắc truyền máu là không được để kháng nguyên và kháng thể tương ứng gặp nhau trong cơ thể. Do vậy, việc xác định nhóm máu chính xác trước khi truyền là rất quan trọng. Nhóm máu O được gọi là nhóm máu "cho phổ thông” tức là có thể cho được tất cả các nhóm nhưng chỉ nhận được máu cùng nhóm O. Nhóm máu AB là nhóm máu "nhận phổ thông” tức là nhận được tất cả các nhóm nhưng chỉ cho được người cùng nhóm máu AB. Người có nhóm máu A có thể máu nhóm O hoặc A, người có nhóm B có thể nhận máu nhóm O hoặc B.

    Thông thường lượng tiểu cầu trong máu ở trạng thái sinh lý bình thường là 150 triệu - 400 triệu/ml. PRP phải chứa tiểu cầu ở nồng độ cao hơn ngưỡng từ 2,3 đến 9 lần. nồng độ tiểu cầu là yếu  tố có sự khác biệt nhất giữa các sản phẩm trên thị trường. Nghĩa là cũng đồng thời ứng dụng công nghệ PRP, nhưng sẽ cho ra hiệu quả khác nhau dựa vào chất lượng tiểu cầu khi ly tâm xong.

    Máy ly tâm có rất nhiều loại, giá từ 3tr lên đến 1ty, thế nên chất lượng tiểu cầu là khác nhau, vè kỹ thuật chiết tách cũng vậy, trong quá trình ly tâm, nếu hồng cầu vở và lẫn vào trong tiểu cầu do máy li tâm kém chất lượng cũng là nguyên nhân không mang lại hiệu quả của liệu trình PRP.

    Công nghệ PRP được phát triển bởi M. Ferrari vào năm 1987 , ông đã dùng PRP như là một thành phần truyền tự thân sau ca phẫu thuật tim hở. Kể từ đó cho đến nay PRP đã được ghi nhận trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

    Cơ sở khoa học của việc ứng dụng PRP trong trẻ hóa da - điều trị sẹo rỗ

    Sở dĩ huyết tương giàu tiểu cầu được chú ý và ứng dụng rộng rãi trong thời gian vừa qua là do tính linh hoạt, hiệu quả và an toàn cao trong điều trị đã được kiểm chứng (Jaehoon Choi và cs., 2012). PRP có vai trò quan trọng trong việc ứng dụng điều trị đặc biệt nhờ khả năng giải phóng các nhân tố tăng trưởng tự nhiên từ tiểu cầu bao gồm:

     Nhân tố tăng trưởng  Vai trò 
     Transforming growth factor beta (TGF-β) - Thu hút các đại thực bào.

    - Kích thích các tế bào nội sinh

    - Tăng cường tổng hợp chất nền ngoại bào, đặc biệt collagen I

     Vascular endothelial growth factor (VEGF) Thúc đẩy quá trình hình thành mạch 
     Hepatocyte growth factor (HGF)  - Kích thích hình thành mạch máu mới.
     Keratinocyte growth factor (KGF) 

    - Kích thích sự phát triển của tế bào biểu mô.

    - Bảo vệ các tế bào da chống lại các tia UV từ môi trường.

     Interleukins (IL-4, IL-10, IL-1RN)  Giảm viêm 
     Basic fibroblast growth factor (bFGF) - Điều hòa quá trình hình thành mạch máu mới
    - Kích thích tăng sinh nguyên bào sợi.
     Insulin-like growth factor 1 (IGF1) - Điều hòa sự phát triển và phân chia của tế bào.
    - Yếu tố liên quan đến quá trình hình thành và phát triển xương
     Platelet-derived growth factor AA (PDGF-AA) - Điều hòa sự tăng trưởng và phân chia của tế bào.

    - Kích thích sự phân chia các nguyên bào sợi, đại thực bào, bạch cầu trung tính.

    - Tăng cường lắng đọng các chất nền ngoại bào.

    - Thúc đẩy nhanh chóng quá trình chữa lành vết thương.


    Cho đến nay đã có trên 5.200 công trình công bố trên NCBI về sử dụng PRP trong nhiều lĩnh vực khác nhau như chỉnh hình, y học thể thao, nha khoa, tai mũi họng, phẫu thuật thần kinh, nhãn khoa, tiết niệu, lành hóa vết thương, mỹ phẩm, phẫu thuật lồng ngực và mặt.

    ỨNG DỤNG PRP TRONG ĐIỀU TRỊ THẨM MỸ


    Trong lĩnh vực thẫm mỹ, tiểu cầu có tác dụng làm ngưng chảy máu, đồng thời sửa chữa các mạch máu và tế bào bị thương, hư hỏng. Các nhân tố tăng trưởng khi được tiết ra ngoài, sẽ cảm ứng tạo collagen và tạo thành các mao mạch mới trong sự trẻ hóa da.  PRP đã được chứng minh có khả năng kích thích sự phát triển, tăng sinh của nguyên bào sợi, tăng cường độ dày da, tăng tổng hợp các chất nền ngoại bào, đặc biệt là collagen, duy trì độ ẩm, ngăn sự hình thành nếp nhăn, trẻ hóa da, tăng cường tính đàn hồi và độ săn chắc da, chống lại các tác nhân oxy hóa gây hại cho da, cải thiện tình trạng sẹo (sẹo mụn, sẹo rỗ, sẹo lõm), thúc đẩy sự phát triển của các nang tóc, chống rụng tóc,... Redaelli  & cs (2010) báo cáo kết quả về việc sử dụng PRP điều trị trên 23 bệnh nhân trong vòng 3 tháng cho thấy mức độ cải thiện đáng kể nếp nhăn trên da.

    ỨNG DỤNG PRP TRONG ĐIỀU TRỊ XƯƠNG KHỚP


    PRP cũng đã được sử dụng trong điều trị xương khớp từ những năm 1990, tuy nhiên, trong giai đoạn này các phương pháp chế tạo còn đơn giản và chưa phát huy hết hiệu quả trong điều trị. Hiện nay bằng các kĩ thuật hiện đại, PRP đã được chế tạo với chất lượng tốt hơn, bổ sung một số nhân tố (calcium, adrenaline, thrombin) có vai trò hoạt hóa tiểu cầu giải phóng nhân tố tăng trưởng góp phần tăng hiệu quả điều trị.

    ỨNG DỤNG PRP TRONG ĐIỀU TRỊ Loét do tiểu đường